|
Tại sao một phần Mình Thánh được đặt vào Chén thánh?7/8/2015
9:30:24 AMGiải
đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng
Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương
các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Tại
sao một mảnh bẻ ra của Mình Thánh được đặt vào Chén Thánh khi đọc "Lạy
Chiên Thiên Chúa"? Liệu việc Đức Thánh Cha trước kia quen bẻ Mình Thánh
thành nhiều mảnh nhỏ, và gửi các mảnh này đến các nhà thờ chính của ngài
như một dấu hiệu của sự hiệp nhất, là đúng không? Hiện Đức Thánh Cha
không làm điều đó nữa.
Trong thời Trung cổ, chúng ta cảm thấy cần phải kết hiệp Thân Mình Chúa
Kitô với Máu Thánh của Ngài trước khi rước lễ, do một sự hiểu theo nghĩa
đen hơn về sự tách rời Thân Mình và Máu của Chúa với việc truyền phép
riêng biệt. Chúng ta tin rằng Chúa Kitô là hoàn toàn hiện diện dưới hai
hình bánh và rượu đã truyền phép. Vì vậy, tại sao bây giờ chúng ta vẫn
còn đặt một mảnh của Mình Thánh vào trong Chén Thánh? - C. F., Chicago,
Mỹ.
Đáp: Tập
tục Đức Thánh Cha gửi một số mảnh Mình Thánh, mà Ngài đã truyền phép,
đến các nhà thờ khác là rất cổ xưa (một số Giám mục khác cũng đã làm như
vậy). Có bằng chứng của việc này trong các tác phẩm của thánh Irênê
(130-202) và trong các thế kỷ sau đó. Mình Thánh không luôn được gửi đến
mọi nhà thờ, và dần dần tập tục này được giới hạn trong các ngày lễ lớn,
và cuối cùng đã biến mất. Không có bằng chứng của việc này sau thế kỷ IX
nữa.
Sau đó có một tập tục khác là một phần của Mình Thánh trong thánh lễ, do
Đức Thánh Cha cử hành, được đặt vào Chén Thánh, để biểu tượng tính liên
tục của hy lễ. Tập tục này là tương đối ngắn trong thế kỷ VIII, và không
hề lan rộng ra khỏi Rôma.
Sự thực hành hiện nay dường như là sự tồn tại của một tập tục thế kỷ
VIII, đó là Đức Thánh Cha đặt một phần Mình Thánh, mà Ngài đã truyền
phép, vào trong Chén Thánh, kèm theo lời nguyện vẫn còn dùng hiện nay:
“Xin cho việc hòa Mình và Máu Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con mà chúng
con sắp lãnh nhận đem lại cho chúng con sự sống muôn đời” (Bản dịch Việt
ngữ của Hội Đồng Giám mục Việt Nam).
Hình thức hiện nay của nghi thức xuất hiện để ngăn chặn sự hợp nhất của
nghi lễ Rôma với tập tục Đức, vốn đã xảy ra dưới triều đại của Hoàng đế
Charlemagne (khoảng năm 747-814), do thánh Biển Đức thành Aniane
(747-821) thực hiện, mặc dù nó không hoàn toàn được thiết lập cho đến
khoảng một thế kỷ sau đó.
Theo chuyên viên phụng vụ nổi tiếng J. A. Jungmann, tính biểu tượng đàng
sau sự thực hành thời Trung cổ là: "sự hòa trộn diễn tả Thân Mình Chúa
Kitô sống lại đi trước lời chúc bình an “Pax Domini”; vì thật sự Chúa
chúng ta đã sống lại từ cõi chết, và chỉ sau đó, Chúa mới đem lại hòa
bình cho trời và đất".
Giáo sư Jungmann cũng nêu ra rằng sự kết nối này với cái chết trên Thập
giá dẫn đến tập tục làm dấu kép (ba lần) trên Chén Thánh với các mảnh
Mình Thánh, trong khi đọc lời: "bình an của Chúa ở cùng anh chị em”, vốn
vẫn là một phần của hình thức ngoại thường, và nó có sự tương đồng trong
một số nghi lễ phụng vụ phương Đông, dựa trên các ý nghĩa biểu tượng
giống nhau.
Ý nghĩa biểu tượng này là hơi khác với điều mà độc giả trên gán cho thời
Trung Cổ. Đa số nhà thần học Trung cổ cũng chủ trương rằng Chúa Kitô
phục sinh đã hiện diện đầy đủ trong cả hai hình, và được hiểu hoàn toàn
rằng sự hòa trộn hai hình Bánh và Rượu trước lời chúc bình an tượng
trưng cho Chúa Kitô phục sinh, mà không có bất kỳ hiệu quả bí tích nào.
Tuy nhiên, sự giải thích này dường như không là ý nghĩa ban đầu của nghi
thức, và thường được gán cho Đức Giám Mục Amalar giáo phận Metz
(780-850), người đã nổi tiếng với các giải thích ẩn dụ của ngài về phụng
vụ.
Mặc dù là phổ biến, sự giải thích này, và chính nghi thức, là không phải
không có vấn đề. Trong quá trình cải cách Sách Lễ sau Công đồng chung
Trentô, đã có nhiều phản đối chống lại sự giải thích ấy, trong chừng mực
nó có thể được giải thích theo nghĩa rằng Mình Thánh và Máu Thánh của
Chúa chúng ta sẽ được kết hợp với nhau chỉ sau khi được hòa trộn với
nhau, chứ chưa kết hợp khi truyền phép hai hình. Điều này có thể hỗ trợ
các lập luận của những người chủ trương rằng việc rước lễ một hình là
không đủ.
Một số đề xuất đã được thực hiện để thay đổi công thức kinh nguyện, để
mang nghi thức trở lại với ý nghĩa ban đầu của nó, vốn được liên kết
chặt chẽ hơn với việc chuẩn bị rước lễ, hơn là với với nghi thức chúc
bình an. Giáo sư Jungmann, sau khi xem xét các bằng chứng lịch sử, đã
kết luận: "Do đó, chúng ta được biện minh về tư tưởng rằng cả hai hình
đại diện cho một Bí Tích, và chứa đựng một Chúa Kitô như ý nghĩa ban đầu
của nghi thức Rôma về sự hòa trộn".
Tuy nhiên, sức mạnh của truyền thống chiếm ưu thế, và nghi thức vẫn
không thay đổi trong Thánh lễ Trentô. Trước Công đồng chung Vatican II,
Giáo sư Jungmann đã nhận xét về nghi thức này: "Hiếm bất cứ nơi nào khác
có tính minh bạch của thủ tục phụng vụ, được chịu đựng quá nhiều bởi sự
co lại và sự nén lại, như ở đây, trong nghi thức bẻ bành và hòa trộn hai
hình, mặc dù các yếu tố của truyền thống cổ xưa đã được bảo tồn một cách
trung thực".
Trong hình thức thông thường của nghi lễ Rôma, một số thay đổi nhỏ nhưng
có ý nghĩa có thể giúp chúng ta mang ý nghĩa của nghi thức trở lại với
sự giải thích ban đầu của nó.
Trước hết, sự hòa trộn có thể được mọi người nhìn thấy, chứ không chỉ
các người ở bàn thờ.
Thứ đến và quan trọng hơn, nghi thức hòa trộn đã được dời từ trước lời
chúc bình an đến sau lời chúc bình an, và như thế trở về với vị trí
trước hoặc trong lời đọc “Lạy Chiên Thiên Chúa”, vốn theo bằng chứng
lịch sử là vị trí ban đầu của nó. Theo cách thức này, ý nghĩa ban đầu
của việc nối kết sự hòa trộn với việc rước lễ là trở nên rõ ràng hơn.
Đây có lẽ là lý do cho sự thay đổi của nghi thức sau Công đồng chung
Vatican II. Và điều này, cũng như trọng lượng của gần 2.000 năm thực
hành, là lý do tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm như vậy.
(Nguyễn Trọng Đa, Zenit.org
7-7-2015)
|